BỆNH QUANH CUỐNG RĂNG

Bệnh quanh cuống răng (hay còn gọi là viêm quanh cuống răng) là bệnh lý nhiều người mắc phải. Bệnh gây ra đau đớn, ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như sinh hoạt thường ngày của bệnh nhân. Nếu không được điều trị kịp thời, tổn thương quanh cuống răng còn có thể dẫn đến nhiều biến chứng phức tạp khác.

Bệnh vùng cuống răng gây đau đớn, , ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như sinh hoạt thường ngày của bệnh nhân.

Bệnh vùng cuống răng gây đau đớn, ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như sinh hoạt thường ngày của bệnh nhân

GIỚI THIỆU CHUNG

Bệnh viêm cuống răng là tổn thương viêm của các thành phần mô quanh cuống răng. Đây là tổn thương viêm nhiễm khuẩn bao gồm các vi khuẩn ái khí và yếm khí, xâm nhập từ mô tủy viêm hoặc mô nha chu viêm, gây ra phản ứng của các thành phần của mô quanh cuống răng.

Người ta thường áp dụng cách phân loại theo mức độ tổn thương trên lâm sàng, có ba loại chính:

  1. Viêm quanh cuống răng bán cấp
  2. Viêm quanh cuống răng cấp tính
  3. Viêm quanh cuống răng mạn tính

Nhưng thực tế trên lâm sàng chúng ta còn gặp 2 thể nữa đó là:

– Đợt bán cấp của viêm quanh cuống mạn

– Đợt cấp tính của viêm quanh cuống mạn

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

Bệnh quanh cuống răng có thể do một trong những nguyên nhân dưới đây:

  • Do viêm tủy, tủy hoại tử gây biến chứng viêm quanh cuống răng.

Qúa trình viêm tủy do các vi khuẩn xâm nhập từ lỗ sâu, giải phóng hàng loạt các chất có độc tính vào mô quanh cuống bao gồm:

Nội độc tố và ngoại độc tố của vi khuẩn.

+ Các enzyme tiêu protein, phosphatase acid, ß – glucuronidase và arylsulfatase.

+  Các enzyme tiêu cấu trúc sợi chun và sơi tạo keo.

+ Prostaglandin và interleukin 6 gây tiêu xương.

  • Do viêm quanh răng: vi khuẩn từ mô quanh răng xâm nhập vào vùng cuống răng.
  • Do sang chấn răng

Có 2 loại sang chấn răng:

– Sang chấn cấp tính: Sang chấn mạnh lên răng gây đứt các mạch máu ở cuống răng. Đây là tiền đề cho sự xâm nhập của vi khuẩn dẫn đến viêm quanh cuống, thường viêm quanh cuống cấp tính.

– Sang chấn mạn tính: Các sang chấn nhẹ như sang chấn khớp cắn, núm phụ, sang chấn do tật nghiến răng, do thói quen xấu như cắn chỉ, cắn đinh,… lặp lại liên tục và gây ra tổn thương viêm quanh cuống mạn tính.

benh-vung-cuong-rang-2

Bệnh viêm cuống răng là tổn thương viêm của các thành phần mô quanh cuống răng

 

  • Do sai sót trong điều trị

– Do chất hàn thừa, chụp quá cao gây sang chấn khớp cắn.

– Do sai sót trong quá trình điều trị tủy:

+  Tắc ống tủy do các tác nhân cơ học như gãy dụng cụ, do các tác nhân hữu cơ như tạo “nút mùn ngà” trong lòng ống tủy.

+ Lạc đường gây thủng ống tủy.

+ Xé rộng hoặc di chuyển cuống răng.

+ Các vi khuẩn trong khoang tủy kháng các chất sát trùng ống tủy như Enterocoque, Streptocoque, Actinomyces, Candida ở các răng điều trị tủy lại.

+ Các tổ chức nhiễm khuẩn bị đẩy vào vùng cuống răng trong quá trình điều trị tủy hoặc các dị vật như sợi cellulose từ cose giấy, bột talc từ găng tay…

+ Chất sát trùng quá mạnh.

+ Các chất hàn tủy quá cuống là vị trí lưu vi khuẩn.

TRIỆU CHỨNG

Tùy vào mức độ bệnh mà có những triệu chứng khác nhau:

  1. Viêm quanh cuống răng bán cấp

Viêm cuống răng bán cấp thường có các triệu chứng sau:

  • Toàn thân: Bệnh nhân cảm thấy bứt rứt khó chịu, sốt nhẹ < 38oC hoặc cảm thấy ngây ngấy sốt.
  • Cơ năng: Có hiện tượng đau âm ỉ liên tục ở răng bị tổn thương, cảm giác răng chồi cao. Khi hai hàm chạm vào nhau, bệnh nhân sẽ bị đau nhiều hơn. Có những trường hợp bệnh nhân chỉ thấy đau âm ỉ nhẹ ở răng tổn thương 1-2 ngày, nhưng không rõ rệt sưng ở lợi vùng cuống.
  • Dấu hiệu thực thể:

+ Ít thấy sưng nề vùng da tương ứng với răng tổn thương. Có thể có hạch nhỏ di động

+ Ngách lợi tương ứng răng tổn thương sưng nề nhẹ, đỏ, đầy, ấn đau.

+ Răng đổi màu xám hoặc không.

+ Tổn thương sâu răng ở các mặt răng.

+  Răng lung lay độ 1, 2.

+  Gõ dọc đau hơn gõ ngang.

+  Thử nghiệm tủy: âm tính.

  • Cận lâm sàng: Chụp X quang, có thể có hình ảnh mờ vùng cuống, dãn rộng dây chằng vùng cuống nhẹ
  1. Viêm quanh cuống răng cấp tính
Tùy từng mức độ bệnh mà bênh quanh cuống răng có những biểu hiện khác nhau

Tùy từng mức độ bệnh mà bênh quanh cuống răng có những biểu hiện khác nhau

Lâm sàng:

  • Toàn thân: Bệnh nhân mệt mỏi, sốt cao ≥ 38˚C, có dấu hiệu nhiễm trùng như môi khô, lưỡi bẩn, có thể có phản ứng hạch ở vùng dưới hàm.
  • Cơ năng:

+ Đau nhức răng: đau tự nhiên, liên tục dữ dội, lan lên nửa đầu, đau tăng khi nhai, ít đáp ứng với thuốc giảm đau, bệnh nhân có thể xác định rõ vị trí răng đau.

+ Cảm giác chồi răng: răng đau chạm trước khi cắn làm bệnh nhân không dám nhai.

  • Dấu hiệu thực thể:

+ Thường thấy vùng da ngoài tương ứng răng tổn thương sưng nề, đỏ, không rõ ranh giới, ấn đau, có hạch tương ứng, ấn đau.

+  Răng có thể đổi màu hoặc không đổi màu,

+ Khám thường thấy tổn thương do sâu chưa được hàn, hoặc răng đã được điều trị, hoặc những tổn thương khác không do sâu.

+ Răng lung lay rõ, thường độ 2 hoặc 3.

+  Gõ dọc răng đau dữ dội so với gõ ngang.

+ Niêm mạc ngách lợi tương ứng vùng cuống răng sưng nề, đỏ, ấn đau, mô lỏng lẻo.

+  Thử nghiệm tủy: âm tính với thử điện và nhiệt do tủy đã hoại tử.

  • Cận lâm sàng:

+ X quang: Có thể có hình ảnh mờ vùng cuống, ranh giới không rõ và dãn rộng dây chằng quanh cuố

+ Xét nghiệm máu: Bạch cầu đa nhân trung tính tăng, máu lắng tăng….

  1. Viêm quanh cuống răng mạn tính

Chẩn đoán lâm sàng:

  • Cơ năng: Chỉ có tiền sử đau của các đợt viêm tủy cấp, viêm quanh cuống cấp hoặc áp xe quanh cuống cấp.
  • Thực thể:

+  Răng đổi màu, màu xám đục ở ngà răng ánh qua lớp men.

+ Vùng ngách lợi tương ứng quanh cuống răng có thể hơi nề, có lỗ rò hoặc sẹo rò vùng cuống. Đôi khi lỗ rò không ở trong hốc miệng mà ở ngoài da hoặc nền mũi tùy vị trí nang và áp xe.

+ Gõ răng không đau hoặc đau nhẹ ở vùng cuống răng.

+ Răng có thể lung lay khi tiêu xương ổ răng nhiều.

+  Các thử nghiệm tủy âm tính.

  • Cận lâm sàng: X quang:

+ Đưa gutta-percha qua lỗ rò trong miệng có thể thấy hình ảnh nguồn gốc ổ mủ trên phim X thiết.

+ Áp xe quanh cuống mạn tính: hình tiêu xương ranh giới không rõ .

+ U hạt và nang: hình ảnh tiêu xương có ranh giới rõ.

+ Không thể chẩn đoán phân biệt chính xác các thể bệnh nếu không có sinh thiết.

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

Nguyên tắc điều trị:

Chỉ điều trị bệnh vùng cuống răng khi:

  • Dẫn lưu tốt mô viêm vùng cuống
  • Hàn kín hệ thống ống tủy, tạo điều kiện cho mô cuống hồi phục
  • Không điều trị vùng cuống răng khi toàn bộ mô nhiễm khuẩn và hoại tử trong ống tủy.
  • Chỉ định phẫu thuật cắt cuống răng nếu tiên lượng điều trị nội nha không có kết quả.

Phác đồ điều trị:

Những răng bị viêm quanh cuống cấp hoặc bán cấp, tiến hành dẫn lưu buồng tủy. Sau đó dùng kháng sinh có tác dụng với vi khuẩn yếm khí và Gram (-), kết hợp với giảm đau, nâng cao thể trạng để tiến hành điều trị nội nha.

Cần khám răng định kì 6 tháng/lần để phòng chống các bệnh răng miệng

Cần khám răng định kì 6 tháng/lần để phòng chống các bệnh răng miệng

Điều trị cụ thể:

  • Điều trị toàn thân: Đối với các thể bệnh đau (viêm quanh cuống cấp, áp xe quanh cuống cấp) phải điều trị bằng kháng sinh toàn thân, đặc biệt trong trường hợp áp xe quanh cuống cấp có viêm mô tế bào.
  • Điều trị nội nha:

+ Làm sạch và tạo hình hệ thống ống tủy

+ Đặt Ca(OH)2 trong ống tủy để trung hòa mô viêm vùng cuống, sát khuẩn hệ thống ống tủy

+ Hàn kín hệ thống ống tủy

+ Phục hồi thân răng.

Điều trị phẫu thuật

Khi điều trị nội nha răng nguyên nhân và răng liên quan, tổn thương quanh cuống không phục hồi do nhiều nguyên nhân thì tiến hành phẫu thuật để lấy đi toàn bộ lớp vỏ nang hoặc có thể cắt phần cuống răng nguyên nhân.

Tiến hành hàn ngược cuống răng nếu cắt cuống răng nguyên nhân.

LƯU Ý SAU ĐIỀU TRỊ

Sau khi điều trị bệnh viêm vùng cuống răng bạn cần:

  • Tránh ăn những thức ăn quá cứng và dai.
  • Vệ sinh răng miệng ít nhất 2 lần/ngày, sau khi thức dậy buổi sáng và ăn tối.
  • Sử dụng bàn chải đánh răng có lông mềm.
  • Xúc miệng bằng nước muối sinh lý hoặc nước súc miệng có nồng độ thích hợp.
  • Tránh uống nước ngọt, hút thuốc và rượu bia, các chất này không tốt cho răng miệng, đặc biệt là khi vừa điều trị các bệnh vùng cuống răng.

BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA

Để tránh bệnh viêm vùng cuống răng bạn cần:

  • Chải răng sau mỗi bữa ăn. Chải răng thường xuyên vào buổi sáng hoặc buổi tối.
  • Không ăn bánh kẹo, các thức uống nhiều đường trước khi đi ngủ
  • Súc miệng bằng nước súc miệng có tính sát khuẩn đặc hiệu với các loại vi khuẩn trong miệng.
  • Chẩn đoán và điều trị bệnh lý tủy kịp thời, tránh tình trạng để lâu ngày bệnh nặng hơn, thậm chí có những biến chứng nguy hiểm.
  • Khám răng định kỳ 6 tháng 1 lần.
  • Ý KIẾN KHÁCH HÀNG

Anh Nguyễn Hữu Lộc (Thành phố Vinh – Nghệ An) chia sẻ: “Tôi bị viêm vùng cuống răng, rất đau và có sốt. Tôi đi đến nhiều phòng khám tư nhân nhưng chữa rồi lại tái phát. Cuối cùng được giới thiệu đến Bệnh viện Đa khoa quốc tế Thu Cúc để điều trị. Tôi khá bất ngờ về cơ sở vật chất ở đây. Mặc dù là bệnh viện tư nhân nhưng cơ sở vật chất được trang bị rất đầy đủ và hiện đại. Bác sĩ nhiệt tình chu đáo. Bệnh vùng cuống răng của tôi được điều trị dứt điểm mà không tốn nhiều thời gian. Tôi thực sự rất vui và cảm ơn các y bác sĩ tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Thu Cúc rất nhiều!”.

BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ THU CÚC

Địa chỉ: 286 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội

Email: contact@thucuchospital.vn

Đặt khám: 1900 558896

Hotline: 0904 564 336

Website: ranghammat.info.vn

 

 

 

 

Đặt khám để nhận chính sách tốt nhất

Lý do bạn nên chọn Bệnh viện Thu Cúc

Bệnh viện khách sạn chuẩn quốc tế
Đội ngũ giáo sư, bác sĩ giỏi trực tiếp khám
Cơ sở vật chất tiện nghi, thiết bị hiện đại
Chi phí khám hợp lý, chỉ từ 100.000đ
Áp dụng bảo hiểm y tế và các bảo hiểm khác
Chăm sóc khách hàng chu đáo
Tư vấn bác sĩ: 1900 55 88 96
MENU